Đang online: 10  |   Hôm qua: 1904  |   Lượt truy cập: 1791440
vi  en
Trang chủ > Chia sẻ > Văn bản pháp luật về Lao Động
Văn bản pháp luật về Lao Động

Ví dụ 3,4,5 Mức hưởng và tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp

Ví dụ 3,4,5 Mức hưởng và tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp

Điều 8 Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH Mức hưởng và tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật việc làm được xác định như sau:

Mức hưởng TCTN hằng tháng

=

60%

x

Mức lương bình quân của 06 tháng cuối có đóng BHTN trước khi thất nghiệp

a) Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp thì sáu tháng liền kề để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.

Ví dụ 3: Bà Nguyễn Thị D giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng với trường tiểu học E với mức lương như sau: từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2014 là 3.000.000 đồng/tháng, từ ngày 01/01/2015 đến 31/12/2015 là 4.000.000 đồng/tháng. Ngày 01/3/2015 đến ngày 31/3/2015, bà D thỏa thuận tạm hoãn hợp đồng lao động với trường tiểu học E. Ngày 18/4/2015 bà D xin nghỉ việc và đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp. Như vậy, mức đóng làm căn cứ tính trợ cấp thất nghiệp của bà D là bình quân tiền lương 06 tháng trước khi bà nghỉ việc mà có đóng bảo hiểm thất nghiệp (tháng 10, 11, 12/2014 và tháng 01, 02, 4/2015). Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của bà D là (3.000.000 đồng x 3 tháng + 4.000.000 đồng x 3 tháng) / 6 x 60% = 2.000.000 đồng/tháng.

Ví dụ 4: Ông Đào Văn N có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục 38 tháng (từ ngày 01/01/2011 đến ngày 28/02/2015), với mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp 6 tháng cuối trước khi mất việc làm là 8.000.000 đồng/tháng, ông N được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian 03 tháng (thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông N tính từ ngày 05/4/2015 đến ngày 04/7/2015). Ngày 02/5/2015 ông N thực hiện giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 12 tháng với doanh nghiệp J (mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là 7.000.000 đồng/tháng) và thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm để bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp. Ngày 28/7/2015 ông N lại mất việc làm và nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp lần 2. Sáu tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp để làm căn cứ tính mức trợ cấp thất nghiệp của ông N là các tháng sau: tháng 12/2014 và tháng 01, 02, 5, 6, 7/2015. Như vậy, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của ông N là (8.000.000 đồng x 3 tháng + 7.000.000 đồng x 3 tháng) / 6 x 60% = 4.500.000 đồng/tháng.

b) Trường hợp mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động cao hơn 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc cao hơn 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật việc làm.

Ví dụ 5: Ngày 01/01/2015, ông Trịnh Xuân Đ giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 12 tháng với doanh nghiệp F với mức lương là 70.000.000 đồng/tháng. Doanh nghiệp F hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I, áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ là 3.100.000 đồng/tháng. Do đó, mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của ông Đ là: 20 lần x 3.100.000 đồng = 62.000.000 đồng/tháng.

Ngày 01/01/2016, ông Đ chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp F và chuyển sang giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 03 tháng với doanh nghiệp G với mức lương là 80.000.000 đồng/tháng. Doanh nghiệp G có trụ sở chính hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV, áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ là 2.150.000 đồng/tháng nhưng ông Đ không làm việc tại trụ sở chính mà làm việc tại chi nhánh, chi nhánh này hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III,  áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ là 2.400.000 đồng/tháng. Do đó, ông Đ tham gia và đóng bảo hiểm thất nghiệp tại tổ chức bảo hiểm xã hội nơi chi nhánh hoạt động với mức lương là: 20 lần x 2.400.000 đồng = 48.000.000 đồng/tháng.

Ngày 31/3/2016, ông Đ chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp G và nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp. Như vậy, 60% mức lương bình quân của 6 tháng liền kề trước khi ông Đ chấm dứt hợp đồng lao động là: (62.000.000 đồng x 3 tháng + 48.000.000 đồng  x 3 tháng) / 6 x 60% = 33.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo quy định thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông Đ không được quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm ông chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của ông Đ là 12.000.000 đồng/tháng (2.400.000 đồng x 5 lần = 12.000.000 đồng/tháng).

2. Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Khoản 4 Điều 21 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP, được hướng dẫn thực hiện như sau:

 

Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo dương lịch. Mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày người lao động bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 50 Luật việc làm đến ngày đó của tháng sau trừ 01 ngày.

 

Hệ thống đang xử lý. Vui lòng đợi!